Chọn hỗ trợ hô hấp ban đầu
11.1. Oxy thường
Dùng khi:
- SpO₂ thấp.
- Tăng công thở.
- Suy hô hấp.
- Sốc hoặc bệnh cảnh nguy kịch.
Dạng oxy:
- Gọng mũi.
- Mask đơn giản.
- Mask không thở lại.
- Venturi mask khi cần kiểm soát FiO₂, đặc biệt COPD/nguy cơ giữ CO₂.
11.2. HFNC
Cân nhắc khi:
- Suy hô hấp thiếu oxy.
- Cần FiO₂ cao.
- Bệnh nhân còn tự thở và bảo vệ đường thở.
- Không có chỉ định đặt nội khí quản ngay.
Theo dõi sát:
- SpO₂.
- Nhịp thở.
- Công thở.
- Tri giác.
- Khí máu.
- Không trì hoãn đặt nội khí quản nếu thất bại.
11.3. NIV
Có ích nhất trong các tình huống chọn lọc:
- COPD đợt cấp có toan hô hấp.
- Phù phổi cấp do tim.
- Một số bệnh nhân suy hô hấp tăng CO₂ hoặc sau rút nội khí quản chọn lọc.
Không phù hợp hoặc chống chỉ định tương đối/nặng khi:
- Ngừng thở hoặc sắp ngừng thở.
- Không bảo vệ được đường thở.
- Nôn ói nhiều.
- Rối loạn ý thức nặng.
- Sốc nặng.
- Chấn thương mặt.
- Không hợp tác.
- Dịch tiết quá nhiều.
- Nguy cơ hít sặc cao.
11.4. Đặt nội khí quản
Cần chuẩn bị đặt nội khí quản hoặc chuyển ICU khi:
- Suy hô hấp tiến triển.
- SpO₂ thấp dù oxy/HFNC/NIV.
- Kiệt sức hô hấp.
- Rối loạn ý thức.
- Không bảo vệ đường thở.
- Toan hô hấp nặng hoặc PaCO₂ tăng nhanh.
- Sốc nặng.
- Ngừng tuần hoàn hoặc ngừng thở.
- Không đáp ứng điều trị ban đầu.