PT/INR, aPTT, fibrinogen, D-dimer: đọc theo mẫu hình
PT/INR kéo dài đơn độc
Nghĩ:
- Warfarin.
- Thiếu vitamin K.
- Bệnh gan sớm.
- Thiếu yếu tố VII.
- DOAC ở một số xét nghiệm.
- DIC sớm hoặc nhẹ trong bối cảnh phù hợp.
aPTT kéo dài đơn độc
Nghĩ:
- Heparin.
- Lupus anticoagulant.
- Thiếu yếu tố VIII, IX, XI.
- Hemophilia.
- Acquired hemophilia.
- von Willebrand disease nặng.
- DOAC có thể ảnh hưởng tùy xét nghiệm.
- Nhiễm mẫu heparin.
Một tổng quan về aPTT kéo dài đơn độc ghi nhận các nhóm nguyên nhân chính gồm thiếu yếu tố đông máu bẩm sinh/mắc phải, điều trị kháng đông đặc biệt heparin, và chất ức chế lưu hành như lupus anticoagulant.
PT và aPTT đều kéo dài
Nghĩ:
- DIC.
- Bệnh gan nặng.
- Thiếu vitamin K nặng.
- Warfarin quá mức.
- Massive transfusion.
- Thiếu nhiều yếu tố đông máu.
- DOAC/kháng đông tùy xét nghiệm.
- Pha loãng.
Fibrinogen thấp
Nghĩ:
- DIC tiêu thụ.
- Xuất huyết khối lượng lớn.
- Bệnh gan nặng.
- Tiêu fibrinogen.
- Sản khoa: nhau bong non, thuyên tắc ối, băng huyết nặng.
- Tiêu sợi huyết.
D-dimer tăng
D-dimer tăng không đặc hiệu. Có thể tăng trong:
- VTE.
- DIC.
- Sepsis.
- Ung thư.
- Thai kỳ.
- Sau mổ/chấn thương.
- Viêm.
- Người già.
- Bệnh gan.
- Xuất huyết.
- COVID-19 và nhiều bệnh cấp khác.
NICE VTE khuyến cáo sử dụng Wells score và D-dimer trong đường chẩn đoán DVT/PE; D-dimer âm tính có giá trị loại trừ trong nhóm xác suất thấp/phù hợp, nhưng D-dimer dương tính không tự chẩn đoán VTE.
PT/aPTT/D-dimer không được đọc tách khỏi bệnh nhân. D-dimer tăng trong sepsis không tự động là PE; aPTT kéo dài không tự động là chảy máu; PT kéo dài ở bệnh gan không tự động cần plasma nếu không chảy máu/thủ thuật.