Ba cấp cứu không được bỏ sót: TTP – HIT – DIC
TTP
Nghĩ TTP khi có:
- Giảm tiểu cầu.
- Thiếu máu tan máu vi mạch.
- Schistocytes.
- LDH tăng.
- Bilirubin gián tiếp tăng.
- Haptoglobin giảm.
- Triệu chứng thần kinh.
- Tổn thương thận.
- Sốt có thể có.
- PT/aPTT thường không kéo dài nổi bật như DIC.
TTP là cấp cứu huyết học. Không chờ đủ “ngũ chứng cổ điển”. ISTH guidelines khuyến cáo trong TTP miễn dịch cấp, corticosteroid được thêm vào plasma exchange; caplacizumab/rituximab có thể được sử dụng tùy mức độ nghi ngờ, xét nghiệm ADAMTS13 và nguồn lực.
HIT
Nghĩ HIT khi:
- Tiểu cầu giảm >50% so với nền.
- Thường xảy ra ngày 5–10 sau heparin, hoặc sớm hơn nếu từng phơi nhiễm gần đây.
- Có huyết khối mới.
- Hoại tử da tại chỗ tiêm.
- Phản ứng toàn thân sau bolus heparin.
- Không có nguyên nhân khác rõ hơn.
ASH 2018 khuyến cáo dùng 4Ts score thay vì đánh giá cảm tính để ước tính xác suất HIT; nếu 4Ts thấp thì tránh xét nghiệm và điều trị HIT không cần thiết, còn nếu 4Ts trung bình/cao thì ngừng heparin và dùng kháng đông không phải heparin theo mức nguy cơ.
DIC
Nghĩ DIC khi có bệnh nền phù hợp:
- Sepsis.
- Chấn thương nặng.
- Ung thư.
- Sản khoa.
- Viêm tụy nặng.
- Sốc.
- Bệnh gan nặng.
- Rắn cắn/độc tố.
- APL.
Mẫu xét nghiệm thường gặp:
- Tiểu cầu giảm.
- PT kéo dài.
- D-dimer/FDP tăng.
- Fibrinogen giảm hoặc giảm tương đối.
- Có thể vừa chảy máu vừa huyết khối.
ARUP nêu ISTH có hệ thống điểm hỗ trợ chẩn đoán overt DIC ở bệnh nhân có bệnh nền liên quan DIC; điểm ≥5 tương thích với overt DIC và cần xét nghiệm lặp lại vì DIC diễn tiến động.
TTP, HIT và DIC đều có thể biểu hiện bằng giảm tiểu cầu, nhưng xử trí hoàn toàn khác nhau. Giảm tiểu cầu + tan máu vi mạch là TTP; giảm tiểu cầu sau heparin + huyết khối là HIT; giảm tiểu cầu + PT kéo dài + D-dimer cao + fibrinogen thấp trong sepsis/ung thư/sản khoa là DIC.