Take-home messages
- Bất thường huyết học phải được đọc theo bệnh nhân, không đọc theo con số đơn độc.
- Trong 10 phút đầu, phải xác định bệnh nhân có chảy máu, huyết khối, sốc, thiếu oxy mô, sepsis, TTP, HIT, DIC hay leukemia cấp không.
- CBC nên đọc theo thứ tự Hb – MCV – WBC/ANC – platelet – smear.
- Hb thấp cần hỏi: cấp hay mạn, có chảy máu không, có triệu chứng thiếu oxy mô không.
- Ở người lớn nhập viện ổn định huyết động, chiến lược truyền hồng cầu hạn chế thường cân nhắc khi Hb <7 g/dL, nhưng xuất huyết cấp phải theo huyết động.
- MCV giúp định hướng thiếu máu nhỏ, bình thường hay to.
- Reticulocyte trả lời câu hỏi tủy có đáp ứng hay không.
- Giảm tiểu cầu cần hỏi cả nguy cơ chảy máu và huyết khối.
- Giảm tiểu cầu + schistocytes + LDH tăng là TTP/TMA cho đến khi chứng minh ngược lại.
- Giảm tiểu cầu sau heparin kèm huyết khối phải nghĩ HIT và dùng 4Ts.
- Sepsis/ung thư/sản khoa + tiểu cầu giảm + PT kéo dài + D-dimer tăng + fibrinogen giảm phải nghĩ DIC.
- D-dimer dương tính không chẩn đoán VTE; D-dimer âm tính chỉ có giá trị loại trừ trong nhóm xác suất phù hợp.
- PT kéo dài, aPTT kéo dài và PT+aPTT kéo dài có các nhóm nguyên nhân khác nhau.
- Fibrinogen rất quan trọng trong chảy máu nặng, DIC, sản khoa và truyền máu khối lượng lớn.
- Phết máu ngoại vi cần làm khi nghi TTP, leukemia, tan máu, giảm nhiều dòng hoặc giảm tiểu cầu giả.
- Truyền máu phải đúng thành phần: hồng cầu, tiểu cầu, plasma, cryoprecipitate/fibrinogen.
- Không truyền tiểu cầu bừa bãi khi nghi TTP/HIT nếu không có chảy máu đe dọa tính mạng.
- WBC rất cao kèm khó thở/thần kinh là leukostasis cho đến khi chứng minh ngược lại.
- Blast máu ngoại vi là lý do hội chẩn huyết học khẩn.
- Câu hỏi cuối cùng luôn là: “Bất thường huyết học này có đang gây chảy máu, huyết khối, thiếu oxy mô, nhiễm trùng hoặc cấp cứu huyết học cần xử trí ngay không?”