Take-home messages

  1. Bất thường huyết học phải được đọc theo bệnh nhân, không đọc theo con số đơn độc.
  2. Trong 10 phút đầu, phải xác định bệnh nhân có chảy máu, huyết khối, sốc, thiếu oxy mô, sepsis, TTP, HIT, DIC hay leukemia cấp không.
  3. CBC nên đọc theo thứ tự Hb – MCV – WBC/ANC – platelet – smear.
  4. Hb thấp cần hỏi: cấp hay mạn, có chảy máu không, có triệu chứng thiếu oxy mô không.
  5. Ở người lớn nhập viện ổn định huyết động, chiến lược truyền hồng cầu hạn chế thường cân nhắc khi Hb <7 g/dL, nhưng xuất huyết cấp phải theo huyết động.
  6. MCV giúp định hướng thiếu máu nhỏ, bình thường hay to.
  7. Reticulocyte trả lời câu hỏi tủy có đáp ứng hay không.
  8. Giảm tiểu cầu cần hỏi cả nguy cơ chảy máu và huyết khối.
  9. Giảm tiểu cầu + schistocytes + LDH tăng là TTP/TMA cho đến khi chứng minh ngược lại.
  10. Giảm tiểu cầu sau heparin kèm huyết khối phải nghĩ HIT và dùng 4Ts.
  11. Sepsis/ung thư/sản khoa + tiểu cầu giảm + PT kéo dài + D-dimer tăng + fibrinogen giảm phải nghĩ DIC.
  12. D-dimer dương tính không chẩn đoán VTE; D-dimer âm tính chỉ có giá trị loại trừ trong nhóm xác suất phù hợp.
  13. PT kéo dài, aPTT kéo dài và PT+aPTT kéo dài có các nhóm nguyên nhân khác nhau.
  14. Fibrinogen rất quan trọng trong chảy máu nặng, DIC, sản khoa và truyền máu khối lượng lớn.
  15. Phết máu ngoại vi cần làm khi nghi TTP, leukemia, tan máu, giảm nhiều dòng hoặc giảm tiểu cầu giả.
  16. Truyền máu phải đúng thành phần: hồng cầu, tiểu cầu, plasma, cryoprecipitate/fibrinogen.
  17. Không truyền tiểu cầu bừa bãi khi nghi TTP/HIT nếu không có chảy máu đe dọa tính mạng.
  18. WBC rất cao kèm khó thở/thần kinh là leukostasis cho đến khi chứng minh ngược lại.
  19. Blast máu ngoại vi là lý do hội chẩn huyết học khẩn.
  20. Câu hỏi cuối cùng luôn là: “Bất thường huyết học này có đang gây chảy máu, huyết khối, thiếu oxy mô, nhiễm trùng hoặc cấp cứu huyết học cần xử trí ngay không?”