A – Airway: đường thở là ưu tiên đầu tiên
Ngộ độc có thể làm mất đường thở theo nhiều cơ chế:
- Giảm tri giác.
- Mất phản xạ bảo vệ đường thở.
- Nôn ói và hít sặc.
- Co giật.
- Tăng tiết đờm dãi.
- Bỏng đường thở do hóa chất hoặc khói cháy.
- Phù thanh quản do chất ăn mòn hoặc phản vệ.
- Yếu cơ hô hấp do thuốc hoặc độc chất.
Cần đánh giá nhanh
- Bệnh nhân có nói được không?
- Có thở rít không?
- Có ngáy, tắc nghẽn, tụt lưỡi không?
- Có nôn, máu, dị vật trong miệng không?
- GCS có giảm không?
- Có co giật không?
- Có tăng tiết nhiều không?
- Có bỏng môi, miệng, họng không?
- Có phù môi, lưỡi, hầu họng không?
- Có dấu hít sặc không?
Khi nào cần bảo vệ đường thở sớm?
Cân nhắc đặt nội khí quản sớm nếu:
- Hôn mê sâu hoặc giảm tri giác tiến triển.
- Không bảo vệ được đường thở.
- Nôn ói nhiều, nguy cơ hít sặc cao.
- Co giật kéo dài hoặc tái diễn.
- Suy hô hấp.
- Tăng tiết nhiều không kiểm soát.
- Bỏng/ăn mòn đường thở.
- Phù thanh quản hoặc phù lưỡi.
- Cần khử độc tiêu hóa nhưng bệnh nhân không bảo vệ được đường thở.
- Cần vận chuyển xa hoặc chuyển tuyến mà nguy cơ xấu đi cao.
Trong ngộ độc, các hướng dẫn nhấn mạnh cần cân nhắc bảo vệ đường thở bằng ống nội khí quản có cuff khi mất phản xạ bảo vệ hoặc dự kiến phù đường thở; không nên thử phản xạ nôn vì có thể gây nôn và hít sặc.
Lưu ý thực hành
Không nên cho than hoạt, rửa dạ dày hoặc đặt sonde dạ dày ở bệnh nhân lơ mơ nếu chưa đánh giá và bảo vệ đường thở.
Than hoạt có thể có vai trò trong một số ngộ độc đường uống, nhưng chống chỉ định khi bệnh nhân không có đường thở nguyên vẹn hoặc chưa được bảo vệ; nguy cơ hít sặc là biến chứng nguy hiểm.
Trong ngộ độc cấp, bảo vệ đường thở phải đi trước khử độc tiêu hóa. Một liều than hoạt sai thời điểm có thể biến ngộ độc thành viêm phổi hít nặng.